BÍ QUYẾT giúp mẹ hạn chế bị RẠCH TẦNG SINH MÔN khi đẻ, mẹ bầu ghi nhớ để giảm bớt những cơn đau “không đáng có” nhé!

1710

Rạch tầng sinh môn là thủ thuật cắt rạch lớp mô nối giữa âm đạo và hậu môn để tạo đường ra rộng hơn cho em bé. Thủ thuật này thường được thực hiện khi mẹ bắt đầu rặn đẻ, thuộc giai đoạn 2 của quá trình sinh nở. Nhiều người cho rằng đây là thủ tục cần có trong mọi ca sinh nở nhưng trên thực tế, điều này không hề được khuyến khích. Tổ chức Y tế Thế giới WHO đã đưa ra lời khuyên hạn chế việc rạch tầng sinh môn trong các ca đỡ đẻ và chỉ thực hiện trong những trường hợp cực kì cần thiết.

Với sự thật nêu trên, các mẹ bầu hoàn toàn có thể loại bỏ khả năng thực hiện rạch tầng sinh môn nếu có được sự chuẩn bị kĩ càng. 7 bí quyết sau đây sẽ giúp bạn loại trừ những cơn đau đớn “không đáng có” từ thủ thuật này trong quá trình sinh đẻ.

1. Chọn người đỡ đẻ không thực hiện quy trình trên

Khi tìm người đỡ đẻ cho mình, bạn cần chắc chắn người đó có chung quan điểm về việc sinh nở với mình. Có khá nhiều người đã coi việc rạch tầng sinh môn là một thói quen cần thực hiện trong khi thực tế lại không phải vậy. Chọn được người có chung suy nghĩ về vấn đề này, bạn sẽ hạn chế nguy cơ phải trải qua những cơn đau đớn khủng khiếp vì rạch tầng sinh môn.

2. Đưa ra quyết định đúng đắn về phương pháp giảm đau

Trước khi sinh, bạn có thể được lựa chọn nên dùng thuốc gây tê hay không. Trên thực tế, việc sử dụng thuốc gây tê không được khuyến khích vì nó hạn chế khả năng rặn đẻ của mẹ. Một khi bạn không còn cảm thấy các cơn cơ đau kích thích từ cơ thể, bạn sẽ khó mà thực hiện những cơn rặn hiệu quả, gây trở ngại cho việc đi ra của thai nhi. Trong trường hợp này, người đỡ đẻ bắt buộc phải thực hiện rạch tầng sinh môn để mở rộng lối ra cho em bé.Nếu muốn chọn biện pháp gây tê, bạn nên yêu cầu sử dụng với liều lượng vừa đủ hoặc thấp hơn một chút để cảm nhận được các kích thích và rặn để hiệu quả hơn

3. Không chọn tư thế nằm khi sinh

Có rất nhiều người cho rằng nằm ngả lưng mới là tư thế chuẩn khi sinh nhưng sự thực lại không phải vậy. Nằm ngả lưng khi sinh con sẽ khiến bạn bị mất trọng lực cũng như tăng thêm áp lực lên vùng xương chậu và khó mà giúp bé tìm được lối ra. Điều này sẽ khiến các cơn rặn đẻ sẽ bị chậm dần, và em bé càng thêm khổ sở tìm khoảng trống vừa đủ để ra ngoài. Nếu nhận thấy dấu hiệu khó ra ngoài của thai nhi, người đỡ đẻ bắt buộc phải rạch tầng sinh môn để mở rộng đường ra cho bé.

Ngoài tư thế nằm, bạn có thể chọn nhiều tư thế khác khi đẻ như đứng, quỳ hay ngồi. Khi bắt đầu chuyển dạ bạn có thể thử tư thế khiến mình thấy thoải mái và rặn đẻ dễ hơn.

4. Giúp thai nhi có tư thế thuận tiện cho sinh nở

Em bé sẽ chui ra khỏi bụng mẹ dễ dàng nếu nằm ở tư thế hướng đầu xuống, mặt đối với xương sống và lưng áp với bụng mẹ. Trong tư thế này bé dễ xoay đầu và định vị được ống dẫn đẻ.Nếu bạn muốn biết về tư thế của thai nhi trong bụng, hãy chủ động hỏi bác sĩ chăm sóc sức khỏe cho mình. Trong trường hợp bé không nằm theo tư thế chuẩn như trên, bạn cần chuẩn bị tinh thần và lựa chọn tư thế đẻ tốt nhất để quá trình sinh nở được thuận tiện hơn.

5. Không rặn đẻ tùy ý

Cố gắng rặn đẻ nhiều không có nghĩa em bé của bạn sẽ chào đời dễ dàng hơn. Rặn đẻ tùy ý dù không cảm thấy những cơn thúc từ bên trong có thể dẫn đến mất sức và đẩy đầu bé ra quá sớm trong khi âm đạo vẫn chưa mở rộng. Hai hệ quả này đều dẫn đến khả năng rạch tầng sinh môn để đỡ bé ra ngoài.

Điều quan trọng là bạn phải tuyệt đối lắng nghe cơ thể mình và biết khi nào em bé đã sẵn sàng cho những cơn rặn đẻ. Rặn đẻ đúng lúc sẽ đảm bảo tư thế đúng cho bé và giúp bạn sinh nở dễ dàng hơn mà không mất quá nhiều công sức.

6. Hỗ trợ cho tầng sinh môn

Để hạn chế khả năng tầng sinh môn bị dãn đột ngột khiến bác sĩ phải thực hiện thủ thuật cắt rạch, bạn nên nhờ người xung quanh hỗ trợ cho vùng sinh môn (ví dụ như chườm ấm) khi bắt đầu rặn đẻ. Một khi lớp mô được tạo điều kiện để căng dãn một cách từ từ thì khả năng thực hiện thủ thuật nói trên sẽ được loại bỏ.

7. Kiên nhẫn trong khi rặn đẻ

Trong lúc rặn đẻ, sẽ có lúc bạn thấy “bốc hỏa” và chỉ muốn thực hiện cho nhanh để em bé mau chóng ra ngoài. Tuy nhiên, làm vậy chỉ khiến lớp mô giữa âm hộ và hậu môn bị căng ra đột ngột, dẫn đến việc rạch tầng sinh môn. Hãy nghe những cơn co thắt và thúc đẻ từ cơ thể để rặn đẻ vừa lúc và có những khoảng nghỉ hợp lý để lấy lại sức.

Xem thêm: HELLP – Hội chứng VÔ CÙNG NGUY HIỂM đối với mẹ bầu khiến con sinh non, mẹ tổn thương đa phủ tạng, nguy cơ TỬ VONG CẢ MẸ VÀ CON cực cao

Người phụ nữ mang thai lần 2, nhưng không hề biết bản thân mắc phải hội chứng HELLP.

Mới đây, Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh tiếp nhận bệnh nhân Đinh Thị Ngọc (40 tuổi, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh) vào viện trong tình trạng mệt mỏi, phù toàn thân, huyết áp tăng. Trước khi nhập viện, chị Ngọc đang mang thai lần 2 và thai nhi phát triển ở tuần thứ 30.

Ngoài triệu chứng mệt mỏi, phù toàn thân, tăng huyết áp, bệnh nhân còn có nguy cơ tổn thương đa phủ tạng (phù phổi, suy tim, suy gan). Qua thăm khám, bác sĩ phát hiện bệnh nhân Ngọc còn có rối loạn đông máu kèm theo những biến chứng của sản giật nặng. Chị Ngọc mắc biến chứng chuyển thành hội chứng HELLP và suy dinh dưỡng bào thai nặng.

Mang thai người mệt mỏi, toàn thân phù hai mẹ và con súyt mất mạng vì biến chứng nguy hiểm này

Sau hơn một giờ phẫu thuật, các bác sĩ tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh đã mổ cứu mẹ và lấy thai thành công (bé gái nặng 1,1kg). Trong suốt quá trình mổ, sản phụ phải thở oxy, dùng các thuốc vận mạch và truyền 3 khối tiểu cầu…

Hội chứng nguy hiểm

Là người trực tiếp điều hành ca mổ, bác sĩ Trần Thị Minh Lý, Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh cho hay, những trường hợp mắc phải hội chứng HELLP cần phải sinh càng sớm càng tốt ngay cả khi thai nhi ít hơn 37 tuần tuổi. Sinh sớm sẽ giúp làm giảm nguy cơ biến chứng cả mẹ và con. Sản phụ mắc phải hội chứng HELLP nếu không được phẫu thuật sớm, nguy cơ gặp biến chứng khoảng 25%, tỷ lệ tử vong ở con là 10-60% tùy theo tình trạng của mẹ.

Bác sĩ Lý khuyến cáo, phụ nữ có tiền sử hội chứng HELLP, nếu muốn mang thai cần phải có sự tư vấn theo dõi chặt chẽ của bác sĩ chuyên khoa sản có kinh nghiệm. Với những sản phụ mang thai cần phải đi khám tại các cơ sở chuyên khoa để được tư vấn, phát hiện hội chứng này sớm nhằm ngăn ngừa các tai biến đáng tiếc xảy ra.

Hội chứng HELLP là một bệnh lý sản khoa, có tỷ lệ mắc ở sản phụ 2% – 12%, tỷ lệ tử vong của mẹ là 25%. Biểu hiện đặc trưng của hội chứng gồm: thiếu máu do tan máu, tăng men gan và giảm tiểu cầu xuất hiện vào nửa cuối của thời kỳ có thai.

Phần lớn hội chứng HELLP xuất hiện trên nền một nhiễm độc thai nghén (tiền sản giật hoặc sản giật). Hội chứng HELLP xuất hiện khoảng 4 – 12% ở người bệnh tiền sản giật, khoảng 30% các trường hợp HELLP xuất hiện các tuần đầu sau đẻ. Bệnh nhân thường có những triệu chứng cảm giác khó chịu, đau thượng vị, nhức đầu, buồn nôn và nôn, phù, cao huyết áp, vàng da, xuất huyết dưới da…

Để phát hiện sớm hội chứng này, phải quản lý thai nghén tốt, sớm phát hiện nhiễm độc thai nghén để điều trị kịp thời. Với các trường hợp có tiền sử nhiễm độc thai nghén, mắc hội chứng HELLP trong những lần mang thai trước thì càng phải theo dõi chặt chẽ.

(Tên nhân vật đã được thay đổi)

Ngọc Minh/emdep.vn